TỪ ĐƯỜNG HỌ VŨ HỮU, THÔN HOÀNH NHA, XÃ GIAO THỦY ( NINH BÌNH ) - DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA CẤP TỈNH
TỪ ĐƯỜNG HỌ VŨ HỮU
DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA CẤP TỈNH
Thôn Hoành Nha, xã Giao Thủy, tỉnh Ninh Bình
I. Thông tin chung
Trong đời sống văn hóa truyền thống của người Việt Nam, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên luôn giữ vị trí đặc biệt quan trọng, thể hiện đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”, “ăn quả nhớ kẻ trồng cây”. Trên vùng đất giàu truyền thống lịch sử và văn hóa như Giao Tiến trước đây, nay thuộc xã Giao Thủy, từ đường các dòng họ không chỉ là nơi thờ tự linh thiêng mà còn là không gian lưu giữ ký ức, truyền thống và bản sắc cộng đồng. Từ đường họ Vũ Hữu là một trong những công trình tiêu biểu như vậy.
Dòng họ Vũ Hữu (Vũ Hữu Tộc) nổi tiếng với lịch sử hơn 400 năm. Phát tích ban đầu làng Hoành Nha, xã Giao Tiến, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định trước đây - Nay là thôn Hoành Nha, xã Giao Thủy, tỉnh Ninh Bình.
Năm 2018, Từ đường họ Vũ Hữu được xếp hạng Di tích Lịch sử - Văn hóa cấp tỉnh theo Quyết định số 230/QĐ-UBND của UBND tỉnh Nam Định.
Từ đường họ Vũ Hữu tọa lạc tại một khu dân cư lâu đời của mảnh đất Giao Thủy Lục Hoành xưa. Vùng đất nổi tiếng với truyền thống hiếu học, yêu nước và đời sống văn hóa phong phú. Đây là nơi thờ tự tổ tiên của dòng họ Vũ Hữu – một chi họ có lịch sử hình thành và phát triển lâu đời tại địa phương.
Công trình không chỉ mang ý nghĩa tâm linh đối với con cháu trong dòng họ mà còn góp phần tạo nên bức tranh văn hóa chung của làng quê Bắc Bộ.

Từ đường Họ Vũ Hữu thôn Hoành Nha, xã Giao Thủy, tỉnh Ninh Bình
II. Lịch sử hình thành và phát triển
Theo gia phả và lịch sử làng xã, cụ Tổ dòng họ Vũ Hữu có nguồn gốc tại làng Đoan Loan-Hải Dương cũ về lập ấp sinh sống tại vùng Giao Thủy cùng với 2 cụ Tổ họ Vũ làng An Cư ( Xuân Vinh) và Trà Lũ (Xuân Bắc) là 3 anh em. Đây là các cụ Tổ hậu duệ của Tổ Vũ Hồn tại Mộ Trạch, Tân Hồng - Bình Giang – Hải Dương.
Theo gia phả và truyền ngôn của dòng họ Vũ Hữu, Thủy tổ của dòng họ là Vũ Phúc Lương. Ông sinh năm Đinh Dậu (1597) dưới triều vua Lê Thế Tông, niên hiệu Quang Hưng thứ 20 và mất năm Phúc Thái thứ 7 (1649). Vào khoảng đầu thế kỷ XVII, ông từ vùng Đan Loan đến vùng đất Hoành Nha ( Giao Tiến ), nay thuộc xã Giao Thủy, cùng các vị tiền nhân của các dòng họ Nguyễn, Hoàng, Lê, Cao tham gia công cuộc quai đê lấn biển, khai hoang lập ấp và xây dựng vùng đất mới. Với tinh thần lao động cần cù, sáng tạo và đoàn kết, ông cùng các dòng họ tiền khai canh đã biến vùng đất hoang hóa ven biển thành khu dân cư trù phú với đồng ruộng màu mỡ, làng xóm đông vui, ổn định.
Bên cạnh công lao khai hoang mở đất, Thủy tổ Vũ Phúc Lương còn cùng các bậc tiền nhân quan tâm xây dựng đời sống văn hóa, tín ngưỡng cho cộng đồng cư dân mới. Ông đã vận động nhân dân đóng góp công sức và tiền của để xây dựng nhiều công trình tôn giáo, tín ngưỡng như đền, chùa và các nơi thờ tự phục vụ đời sống tinh thần của người dân. Đồng thời, các vị tiền nhân còn mở chợ, bắc cầu, tạo điều kiện thuận lợi cho việc đi lại và giao thương. Những đóng góp đó đã góp phần quan trọng vào quá trình hình thành và phát triển vùng đất Hoành Nha xưa.
Để ghi nhớ công lao của Thủy tổ Vũ Phúc Lương, sau khi ông qua đời, con cháu trong dòng họ đã xây dựng từ đường và lập thần vị tôn thờ ông làm Thủy tổ của dòng họ Vũ Hữu. Hiện nay thần vị của ông được đặt trang trọng tại gian chính giữa tòa hậu đường của từ đường họ Vũ Hữu. Trên thần vị ghi dòng chữ Hán: “Thái tổ khảo hậu Phật tự Lương Phúc, đạo hiệu Huyền Khang Sướng Nguyên tiên sinh”, thể hiện sự tôn kính của hậu thế đối với người có công khai sáng dòng họ và quê hương.
Theo gia phả, Thủy tổ Vũ Phúc Lương có ba người con trai là Vũ Ngọc Cẩm, Vũ Ngọc Tri và Vũ Ngọc Lãng. Từ ba người con này, các thế hệ con cháu tiếp tục kế thừa sự nghiệp khai hoang, mở rộng đất đai, xây dựng quê hương và phát triển dòng họ qua nhiều thế hệ.
Trong số các hậu duệ tiêu biểu của dòng họ có Vũ Đình Bút, thuộc đời thứ Tư sau Thủy tổ. Ông có tên húy là Quán, thụy là Chính Nghị, đạo hiệu Huyền Diệu tiên sinh, dân gian còn gọi là cụ Hậu Bút. Sinh năm 1662 và mất năm 1736, ông là người có nhiều đóng góp cho cộng đồng địa phương. Khi nhân dân vùng ven biển gặp thiên tai, lũ lụt và mất mùa, ông đã đem tài sản của gia đình để giúp dân nộp thuế, ổn định cuộc sống và tiếp tục sản xuất. Ghi nhận công lao đó, sau khi mất ông được nhân dân suy tôn là Hậu thần của làng và hiện được phối thờ cùng Thành hoàng làng tại Đền Thượng. Những đóng góp của Thủy tổ Vũ Phúc Lương và các thế hệ hậu duệ đã tạo nên truyền thống tốt đẹp, góp phần quan trọng vào lịch sử hình thành và phát triển của vùng đất Giao Tiến xưa cũng như dòng họ Vũ Hữu.


Nhang án thờ thần vị Thủy tổ Vũ Phúc Lương đặt trang trọng tại gian chính giữa tòa hậu đường của từ đường họ Vũ Hữu
Trong các phong trào cách mạng và kháng chiến của địa phương, con cháu dòng họ Vũ Hữu đã có nhiều đóng góp quan trọng cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ quê hương, đất nước. Hưởng ứng khí thế của Cách mạng tháng Tám năm 1945, con cháu trong dòng họ tích cực tham gia xây dựng chính quyền cách mạng, gia nhập các tổ chức quần chúng như Thanh niên cứu quốc, Phụ nữ cứu quốc, đồng thời vận động nhân dân và con em tham gia lực lượng dân quân tự vệ, lên đường chiến đấu bảo vệ thành quả cách mạng.
Trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp (1946–1954), từ đường họ Vũ là cơ sở tin cậy của cán bộ, Đảng viên và lực lượng du kích địa phương, đồng thời là nơi tổ chức các lớp Bình dân học vụ, bổ túc văn hóa cho nhân dân. Bước vào thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước, từ đường tiếp tục phát huy vai trò là địa điểm sơ tán của Ngân hàng huyện và là nơi khơi dậy, cổ vũ tinh thần yêu nước, động viên thanh niên lên đường tòng quân bảo vệ Tổ quốc.
Qua hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, dòng họ Vũ Hữu có hàng trăm người tham gia quân đội và các lực lượng phục vụ kháng chiến; trong đó có 24 người anh dũng hy sinh trên các chiến trường, 20 người là thương binh, bệnh binh và có 3 bà mẹ Việt Nam anh hùng được Nhà nước phong tặng danh hiệu cao quý. Nhiều người con của dòng họ đã trưởng thành, đảm nhiệm những cương vị quan trọng ở Trung ương, địa phương và được Nhà nước tặng thưởng nhiều huân chương, huy chương. Những đóng góp to lớn đó đã góp phần quan trọng vào thắng lợi của sự nghiệp cách mạng, đồng thời làm rạng danh truyền thống yêu nước, cách mạng của dòng họ Vũ Hữu và quê hương Giao Tiến.



Dù đã được tôn tạo, trùng tu, Từ đường Họ Vũ Hữu vẫn giữ nguyên kết cấu, kiến trúc nguyên sơ
Từ đường họ Vũ Hữu được xây dựng từ nhiều thế hệ trước, căn cứ vào tư liệu Hán Nôm gia phả, thế phả, câu đối, hoành phi, đại tự thì từ đường họ Vũ Hữu được khởi công tạo dựng từ năm vua Tự Đức thứ 10 (1857). Ngôi từ đường ban đầu được xây dựng 3 gian chính, 3 gian bái đường cấp 4. Đến năm Nhâm Thân niên hiệu Tự Đức 25 (1872), con cháu lại tiếp tục đóng góp trùng tu ngôi từ đường. Cột lim, ngói mũi khang trang tôn kính, và từ đó đến nay con cháu trong họ thường xuyên hưng công tu sửa, tôn tạo vào các năm Giáp Thân niên hiệu Kiến Phúc (1883), Canh Tuất niên hiệu Duy Tân (1910), Mậu Tuất niên hiệu Bảo Đại 13 (1938). Gần đây nhất là 2006 – 2007, các cụ và con cháu ở quê cũng như ở mọi miền đất nước đồng tâm hiệp lực đóng góp tiến cúng đại trùng tu, ngôi từ đường vẫn bảo lưu giữ nguyên kiến trúc truyền thống cổ kính khang trang, cao đẹp tôn nghiêm và quy hoạch lại toàn bộ khuôn viên, tổng bình cơ là 841m3. Tạo dựng, cổng mới tam môn và mở rộng sân lát gạch đỏ làm tăng thêm vẻ đẹp trang nghiêm, uy nghi bề thế của ngôi từ đường, gắn liền với quá trình lập làng, khai khẩn đất đai và phát triển kinh tế – xã hội của cư dân địa phương. Trải qua thời gian và những biến động của lịch sử, công trình đã nhiều lần được tu sửa, tôn tạo để giữ gìn vẻ trang nghiêm và bền vững.
Dòng họ Vũ Hữu luôn đề cao truyền thống đoàn kết, hiếu học, trọng đạo lý và có nhiều đóng góp cho quê hương. Trong lịch sử, họ Vũ là một dòng họ lớn của dân tộc, có nhiều nhân vật nổi bật, tiêu biểu như Vũ Hữu – một danh nhân văn hóa thời Lê sơ. Dù không phải mọi chi họ đều trực tiếp liên hệ, nhưng đó vẫn là niềm tự hào chung của dòng họ.

Tháng 8 năm 2024, đồng chí Tòng Thị Phóng, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Phó Chủ tịch Quốc hội đã về thăm Di tích Lịch sử - Văn hóa Từ đường họ Vũ Hữu xã Giao Thủy, tỉnh Ninh Bình
III. Giá trị Văn hóa Kiến trúc và không gian thờ tự
Giá trị kiến trúc:
Từ đường họ Vũ Hữu mang đậm nét kiến trúc truyền thống của vùng đồng bằng Bắc Bộ, nơi thờ Thủy tổ Vũ Phúc Lương. Công trình thường được xây dựng theo kiểu chữ “Đinh” hoặc “Nhị”, gồm các hạng mục chính như:
- Tiền đường: nơi hành lễ, tiếp đón con cháu và khách thập phương.
- Hậu cung: nơi đặt bàn thờ tổ tiên, có tính chất linh thiêng nhất.
Kết cấu chủ yếu bằng gỗ, mái lợp ngói, các chi tiết chạm khắc tinh xảo với họa tiết rồng, phượng, hoa lá cách điệu, thể hiện tay nghề khéo léo của nghệ nhân xưa. Cụ thể:
Từ đường họ Vũ Hữu được khởi dựng vào năm 1857 (Tự Đức thứ 10), là nơi thờ Thủy tổ Vũ Phúc Lương cùng các bậc tiên tổ của dòng họ. Trải qua nhiều lần tu bổ, tôn tạo vào các năm 1872, 1883, 1910, 1938 và gần đây là các năm 2006–2007, công trình vẫn bảo tồn được những giá trị kiến trúc truyền thống tiêu biểu và trở thành trung tâm sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng của con cháu trong dòng họ.
Di tích tọa lạc trên khu đất rộng khoảng 841m², cao ráo và thoáng đãng, quay hướng Nam. Tổng thể kiến trúc từ đường được bố cục theo kiểu chữ Tam, gồm ba tòa nhà chính là tiền đường, trung đường và hậu đường, cùng các hạng mục phụ trợ như nghi môn, sân tế và tường bao bảo vệ. Nghi môn được xây dựng theo kiểu cổ lầu hai tầng tám mái, sân từ đường rộng hơn 200m² lát gạch đỏ, tạo không gian trang nghiêm phục vụ các nghi lễ truyền thống của dòng họ.
Các tòa kiến trúc chủ yếu có bộ cửa và khung sử dụng gỗ lim, mái lợp ngói nam, nền lát gạch đỏ. Hệ khung gỗ được liên kết theo kỹ thuật kiến trúc truyền thống với các vì kèo chồng rường, giá chiêng, thể hiện trình độ tay nghề cao của các nghệ nhân xưa. Trên các cấu kiện kiến trúc còn lưu giữ nhiều mảng chạm khắc tinh xảo mang phong cách nghệ thuật thời Nguyễn thế kỷ XIX với các đề tài tứ linh, tứ quý, hoa lá cách điệu và các họa tiết trang trí mang ý nghĩa cát tường.
Hậu đường là không gian thờ tự quan trọng nhất của di tích, nơi đặt khám thờ và bài vị Thủy tổ Vũ Phúc Lương cùng các vị tiên tổ kế thành của dòng họ. Với lịch sử hơn 160 năm tồn tại, Từ đường họ Vũ Hữu không chỉ là nơi lưu giữ truyền thống “Uống nước nhớ nguồn” mà còn là công trình có giá trị về lịch sử, văn hóa, kiến trúc và giáo dục truyền thống, góp phần bảo tồn bản sắc văn hóa của địa phương và dòng họ Vũ Hữu.

Bằng xếp hạng Di tích Lịch sử Văn hóa cấp tỉnh Từ đường họ Vũ Hữu
Sơ đồ phân bố hiện vật khu di tích từ đường dòng họ Vũ Hữu:
Khám thờ Thủy tổ
Tại gian giữa hậu đường đặt khám thờ Thủy tổ, là hiện vật quan trọng nhất trong không gian thờ tự. Khám được làm bằng gỗ, có kích thước cao 130 cm, dài 130 cm, rộng 45 cm. Mặt trước được cấu tạo thành hai lớp. Lớp ngoài là cửa võng đục chạm thông phong với các họa tiết hoa lá cách điệu, phía trên chạm hình rồng chầu mặt trời. Lớp trong chia thành ba khoang cửa, mỗi khoang gồm hai cánh cửa được chạm lộng hình chữ “Thọ” và có hạ bức bàn phía dưới. Toàn bộ khám thờ được sơn son thếp vàng, mang phong cách nghệ thuật thời Nguyễn thế kỷ XIX.
Bài vị Thủy tổ
Bên trong khám thờ đặt bài vị Thủy tổ bằng gỗ. Bài vị cao khoảng 68 cm, phần đỉnh chạm hình rồng chầu, các diềm xung quanh được trang trí hoa văn dây lá tinh xảo. Chính giữa bài vị khắc chữ Hán ghi danh hiệu và thân thế của vị Thủy tổ được thờ phụng tại từ đường. Đây là trung tâm tín ngưỡng và là đối tượng thờ cúng chính của toàn bộ công trình.
Hệ thống câu đối
Tại tiền đường hiện còn treo bốn đôi câu đối bằng gỗ. Mỗi câu đối dài 230 cm, rộng 34 cm, nền sơn đỏ và chữ Hán nổi thếp vàng. Nội dung các câu đối chủ yếu ca ngợi công lao tổ tiên, truyền thống của dòng họ và ghi lại niên đại tạo lập. Các câu đối được làm vào các năm 1868, 1871, 1872 và 1903, phản ánh quá trình bổ sung, tu sửa và phát triển của từ đường qua nhiều thời kỳ.
Đại tự (hoành phi)
Treo tại vị trí trung tâm của tòa tiền đường là bức đại tự bằng gỗ có kích thước dài 195 cm, rộng 50 cm. Đại tự có nền sơn đỏ, viền chạm gờ chỉ và chữ Hán thếp vàng. Mặt đại tự được chia thành bốn ô vuông, ghép thành bốn chữ “Tự cổ tại tích”, có nghĩa là “dấu tích còn từ xưa”. Dòng lạc khoản ghi rõ hiện vật được làm vào năm Quý Dậu (1873), dưới triều vua Tự Đức.
Không gian tổng thể toát lên vẻ cổ kính, tĩnh lặng và linh thiêng.
2. Giá trị văn hóa – lịch sử
Từ đường họ Vũ Hữu có giá trị to lớn trên nhiều phương diện:
- Giá trị tâm linh: Là nơi con cháu tưởng nhớ, tri ân công đức tổ tiên, thể hiện đạo hiếu và truyền thống gia đình.
- Giá trị lịch sử: Lưu giữ thông tin về quá trình hình thành, phát triển của dòng họ và địa phương qua các thế hệ.
- Giá trị giáo dục: Góp phần giáo dục thế hệ trẻ về truyền thống, đạo lý, lòng tự hào và ý thức trách nhiệm với gia đình, quê hương.
- Giá trị cộng đồng: Là nơi tổ chức các hoạt động họ tộc, tăng cường sự gắn kết giữa các thành viên trong dòng họ.
Hoạt động truyền thống
Từ đường họ Vũ Hữu là trung tâm sinh hoạt tín ngưỡng và văn hóa của dòng họ, nơi con cháu các thế hệ thường xuyên về dâng hương, tưởng nhớ tổ tiên và các bậc tiền nhân. Hoạt động thờ cúng tổ tiên được duy trì quanh năm, thể hiện đạo lý “Uống nước nhớ nguồn” và lòng biết ơn đối với những người có công khai sáng, gây dựng dòng họ.
Hằng năm, tại từ đường diễn ra hai kỳ lễ giỗ tổ quan trọng. Kỳ lễ tháng 3 âm lịch là lễ kỵ Thủy tổ. Vào ngày mồng 9, con cháu trong họ chuẩn bị lễ vật, dọn dẹp và trang hoàng từ đường, đồng thời Ban trị sự tổ chức lễ cáo yết. Ngày mồng 10 là ngày chính kỵ với các nghi thức dâng hương, tế tổ, đọc văn tế và ôn lại công đức của tiền nhân cùng quá trình xây dựng, tu tạo từ đường qua các thời kỳ. Sau nghi lễ, con cháu dâng lễ vật thể hiện thành quả lao động trong năm, tổ chức gặp mặt, thụ lộc, giao lưu họ tộc, tổng kết công việc và bàn kế hoạch cho năm tiếp theo trước khi làm lễ tạ.
Kỳ lễ tháng 7 âm lịch được tổ chức vào ngày mồng 10 để tưởng niệm Tổ Vũ Ngọc Cẩm (húy Điền), con trai của Thủy tổ Vũ Phúc Lương. Các nghi thức chính gồm dâng hương, đọc tiểu sử và công đức của tổ, thực hiện tế lễ trang nghiêm, sau đó làm lễ tạ vào cuối ngày.
Ngoài hai kỳ lễ chính, từ đường còn là nơi diễn ra các nghi lễ tín ngưỡng thường niên như Tết Thanh minh, Tết Đoan Ngọ, lễ Vu Lan, lễ Tất niên, lễ Giao thừa cùng các ngày sóc, vọng hằng tháng (mồng Một và ngày Rằm âm lịch). Trong những dịp này, con cháu trong dòng họ đều trở về dâng hương, tưởng nhớ tổ tiên và cầu mong bình an, hưng thịnh.
Bên cạnh các hoạt động tín ngưỡng, từ đường còn là nơi tổ chức hoạt động khuyến học – khuyến tài của dòng họ. Vào trung tuần tháng Tám hằng năm, Hội Khuyến học – Khuyến tài họ Vũ tổ chức tuyên dương, khen thưởng những cá nhân có thành tích học tập xuất sắc, qua đó khích lệ truyền thống hiếu học và tinh thần vươn lên của các thế hệ con cháu.
Các kỳ lễ và sinh hoạt tại từ đường cũng là dịp để gắn kết các chi họ, tăng cường tình đoàn kết giữa các thế hệ, giáo dục truyền thống gia tộc, tôn vinh công lao tổ tiên và những người có đóng góp cho quê hương, đất nước. Những hoạt động này góp phần quan trọng trong việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của dòng họ cũng như của địa phương.


Qua bao thăng trầm của thời gian, nơi đây vẫn giữ vững vai trò là điểm tựa tinh thần,
gắn kết các thế hệ con cháu, góp phần làm giàu thêm bản sắc văn hóa quê hương.
IV. Vai trò, trách nhiệm của các cấp quản lý, Ban Quản lý Di tích, Ban Khánh tiết dòng họ và cộng đồng địa phương trong việc gìn giữ, bảo tồn, phát huy các giá trị của di tích.
Trong bối cảnh hiện nay, việc bảo tồn và phát huy giá trị của từ đường họ Vũ Hữu là hết sức cần thiết. Đồng thời, việc kết hợp bảo tồn với giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ là hướng đi bền vững, góp phần giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc.
Từ đường họ Vũ Hữu, xã Giao Thủy, tỉnh Ninh Bình không chỉ là một công trình kiến trúc truyền thống mà còn là biểu tượng của đạo lý, lịch sử và văn hóa dòng họ. Qua bao thăng trầm của thời gian, nơi đây vẫn giữ vững vai trò là điểm tựa tinh thần, gắn kết các thế hệ con cháu, góp phần làm giàu thêm bản sắc văn hóa quê hương.
Việc bảo tồn và phát huy giá trị của từ đường không chỉ là trách nhiệm của riêng dòng họ Vũ Hữu mà còn là nhiệm vụ chung của chính quyền sở tại, cộng đồng địa phương trong việc giữ gìn di sản văn hóa dân tộc Việt Nam.
Khi một công trình được xếp hạng là Di tích lịch sử – văn hóa, thì đó không còn chỉ là tài sản riêng của một thôn, dòng họ hay địa phương, mà đã trở thành một phần di sản chung cần được Nhà nước và cộng đồng cùng bảo vệ, phát huy giá trị. Vì vậy, mỗi chủ thể đều có vai trò và trách nhiệm riêng, gắn với quy định của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch và Luật Di sản văn hóa Việt Nam.
Cấp ủy và chính quyền địa phương có trách nhiệm lãnh đạo, quản lý, bảo vệ nguyên trạng di tích, ngăn chặn các hành vi lấn chiếm, tự ý sửa chữa, đồng thời quan tâm đầu tư, phát huy giá trị văn hóa, lịch sử và giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ.
Ban Quản lý di tích là lực lượng trực tiếp trông coi, bảo quản công trình, quản lý hiện vật, giữ gìn vệ sinh, cảnh quan, tổ chức các hoạt động tại di tích đúng quy định và phối hợp với chính quyền xử lý các vấn đề phát sinh.
Đối với từ đường, nhà thờ họ, dòng họ có trách nhiệm bảo tồn kiến trúc, gia phả, sắc phong, hiện vật quý; giáo dục con cháu về truyền thống tổ tiên, không tự ý cải tạo làm mất giá trị gốc của di tích.
Nhân dân địa phương là chủ thể quan trọng nhất trong việc giữ gìn di sản, cần nâng cao ý thức bảo vệ cảnh quan, môi trường, thực hiện nếp sống văn minh, tích cực tham gia các hoạt động văn hóa và giám sát cộng đồng để bảo vệ di tích.
Điều quan trọng nhất đối với một di tích đã được xếp hạng không phải là xây mới hay làm quy mô lớn hơn, mà là giữ được giá trị nguyên gốc, bản sắc văn hóa, sự tôn nghiêm và ý nghĩa lịch sử của công trình. Khi cả cộng đồng, dòng họ cùng chung tay quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị di tích, thì di sản sẽ trở thành niềm tự hào, nơi giáo dục truyền thống và là nền tảng văn hóa bền vững cho quê hương.












