Chuyên Mục Nguồn Cội - Blog Họ Vũ Hữu Tộc - 武有

Di tích lịch sử Từ đường họ Vũ Hữu xã Giao Tiến, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định

Di tích lịch sử Từ đường họ Vũ Hữu xã Giao Tiến, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định 8/13/2024

Từ đường họ Vũ Hữu được tọa lạc tại xóm 10 Quyết Tiến, xã Giao Tiến, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định. Là nơi thờ Thủy tổ Vũ Phúc Lương và các vị tổ kế thành



Theo các nguồn tư liệu lịch sử thì xã Giao Tiến trước đây có tên gọi là Hòe Nha - một vùng đất có lịch sử hình thành và phát triển gắn liền với công cuộc quai đê, lấn biển diễn vào khoảng nửa cuối thế kỷ XV.



Đến năm 1787 sau sự kiện “Ba Lạt phá hội” dòng sông Hồng đột biến đổi dòng chảy về phía của Ba Lạt, Hòe Nha bị nước tràn vào đã phá hủy toàn bộ đất đai nhà cửa của nhân dân. Vì vậy, dân làng phải dời chỗ ở về phía cửa Hà Lạt và lấy tên địa danh mới là Hoành Nha.



Trước cách mạng tháng Tám năm 1945, Hoành Nha là một xã thuộc tổng Hoành Nha, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định. Cách mạng tháng Tám thành công, các đơn vị hành chính có sự điều chỉnh đồng loạt theo nguyên tắc, bãi bỏ cấp tổng, lập cấp xã trên cơ sở hợp nhất nhiều làng cũ, đồng thời thay đổi tên gọi thành xã Giao Tiến.



Ngày 12/12/1967 theo quyết định của Chính phủ số 174/QĐ-CP sát nhập hai huyện Giao Thủy và Xuân Trường thành huyện Xuân Thủy. 3 xã Giao Hùng, Giao Thắng, Giao Tiến được hợp thành xã Giao Tiến.



Ngày 26/2/1997, tách huyện Xuân Thủy thành hai huyện Giao Thủy và Xuân Trường, xã Giao Tiến thuộc huyện Giao Thủy.



Trải qua nhiều lần thay đổi địa chính giới, đến nay Giao Tiến là một trong 22 xã, thị trấn của huyện Giao Thủy, địa bàn xã chia thành 3 thôn: Quyết Tiến, Quyết Thắng và Hùng Tiến. Từ đường họ Vũ Hữu được xây dựng trên địa bàn xóm 10 Quyết Tiến.



Vào thời vua Lê Thánh Tông, niên hiệu Hồng Đức (1460 – 1497), triều đình ban hành nhiều chính sách để khuyến khích phát triển nông nghiệp, đồng thời cho phép dân phiêu tán được đi khai hoang những vùng đất bãi ven sông, ven biển, ruộng đất bỏ hoang để lập đồn điền mở rộng diện tích canh tác, lập nên những miền quê mới.



Những vị tổ đầu tiên đặt chân tới vùng đất Hoành Nha cùng hợp sức khai hoang lần lượt thuộc các dòng họ: Nguyễn, Hoàng, Lê, Vũ, Cao…



Từ đường họ Vũ thờ Thủy tổ Vũ Phúc Lương và các vị tổ kế thành.



Thủy tổ Vũ Phúc Lương, sinh năm Đinh Dậu triều vua Lê Thế Tông niên hiệu Quang Hưng thứ 2 (1597), mất năm Phúc Thái 7 (1649).



Khoảng đầu thế kỷ thứ XVII, Thủy tổ từ vùng đất Đan Loan, Hải Dương về mảnh đất Hoành Nha góp công, góp của cùng các vị tổ của dòng họ Nguyễn, Hoàng, Lê, Cao… chiêu mộ nhân dân trong vùng quai đê lấn biển lập nên vùng đất Hoành Nha.



Cùng với việc khai khẩn đất đai, tạo dựng làng xóm, Thủy tổ Vũ Phúc Lương cùng Thủy tổ các dòng họ còn lại quan tâm đến việc xây dựng các công trình phúc lợi, tôn giáo, tín ngưỡng phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt cũng như đời sống tinh thần của nhân dân trên vùng đất mới. Bên cạnh các công trình tôn giáo, tín ngưỡng các tổ còn cho bắc cầu, mở chợ để nhân dân đi lại giao lưu buôn bán đễ dàng.



Ghi nhớ công lao của Thủy tổ Vũ Phúc Lương, sau khi ông qua đời, con cháu trong dòng họ đã xây dựng từ đường, lập thần vị tôn thờ ông làm Thủy tổ của dòng họ. Thần vị thờ Thủy tổ được đặt trang trọng ở gian chính giữa tòa hậu đường, hãm trung trên thần vị ghi dòng chữ Hán: Thái tổ khảo hậu phật tự Lương Phúc, đạo hiệu Huyền Khang Sướng Nguyên tiên sinh thần vị.



Về đời tư, Thủy tổ Vũ Phúc Lương sinh được 3 người con: con trưởng Vũ Ngọc Cẩm, con thứ Vũ Ngọc Tri và con út Vũ Ngọc Lãng.



Kế tục sự nghiệp khẩn hoang của Thủy tổ Vũ Phúc Lương, các thế hệ hậu duệ của tổ còn tiếp tục đóng góp công sức vào công cuộc khẩn hoang mở đất để hình thành nên các miền quê mới, tiêu biểu trong số đó có tổ Vũ Đình Bút (đời thứ 4) trong quá trình khai hoang phục hóa mở rộng diện tích đất đai xuống phía cửa biển Hà Lạn, dân ấp Hòe Nhai đã gặp phải thiên tai, lũ lụt, mất mùa đói kém, tổ Vũ Đình Bút đã đem hết tài sản của nhà ra nộp thuế cho nhân dân địa phương, giúp dân vượt qua hoàn cảnh khó khăn, yên tâm sản xuất, ổn định cuộc sống. Ghi nhớ công lao của tổ Vũ Đình Bút, sau khi mất dân làng suy tôn ông là bậc Hậu thần của làng – được thờ cùng Thành hoàng làng trong cung cấm của đền Thượng.



Công trình kiến trúc của Từ đường họ Vũ Hữu tọa lạc trên một khu đất cao ráo, thoáng đãng, có diện tích rộng 841m2 mặt quay hướng Nam.



Trên mặt bằng tổng thể, Từ đường họ Vũ Hữu bao gồm các hạng mục kiến trúc: Nghi môn, sân và công trình kiến trúc Từ đường.



Nghi môn: Nghi môn của Từ đường quay hướng Đông, được xây dựng khang trang bề thế với ba cổng ra vào gồm một cổng chính và hai cổng phụ. Cổng chính có kích thước rộng 3,20m, được thiết kế theo cổ đẳng hai tầng 8 mái, lợp ngói nam với các đầu đao uốn cong mềm mại. Phần cổ đẳng nối giữa lớp mái trên và mái dưới có nhấn nổi 3 chữ Hán: “Vũ Hữu tộc”. Dưới lớp mái tạo ba khoang cửa cuốn vành mai, phân cách giữa các cổng là cột trụ vuông, giữa mỗi cột có nhấn câu đối chữ Hán ca ngợi công lao của các vị tổ. Nối liền với nghi môn là hệ thống tường bao xây kép kín bảo vệ công trình.



Sân từ đường: Từ nghi môn vào từ đường là một khoảng sân rộng 200m2 được lát bằng gạch đỏ theo hình chữ “công”, thuận tiện cho việc tế lễ.



Công trình kiến trúc từ đường: Mặt quay hướng Nam với bố cục mặt bằng kiểu “chữ tam” gồm 3 tòa: Tiền đường, trung đường và hậu đường.



Tòa tiền đường chia thành 3 gian có kích thước dài 9,05m, rộng 7,20m, hiên rộng 2,20m, bộ mái lợp ngói nam, giữa đường bờ nóc đắp họa tiết rồng chầu mặt trời.



Phần cốt nền tiền đường cao hơn mặt sân 0,60m, lát bằng gạch đỏ, phía trước tạo bậc lên xuống. Hai đầu hồi phía trước tiền đường xây hai cột trụ biểu bằng bê tông cốt thép cao 5.0m, cạnh 0.45m, đỉnh trụ đắp nghê chầu, thân trụ tạo viền chỉ, nhấn nổi câu đố bằng chữ Hán, nội dung ca ngợi công lao của tổ tiên, đế trụ đắp hình cổ bồng.



Bộ cửa tòa tiền đường được gia công bằng gỗ lim theo kiểu thượng song hạ bản, chạy dọc 3 gian công trình. Mỗi khoang cửa gồm 4 cánh, kích thước cao 2,20m, rộng 0,60m (cửa giữa) và 0,50m (cửa hai bên).



Bộ khung tòa tiền đường được liên kết với nhau bởi 4 vì kéo kiểu 3 hàng chân cột. Để tạo nên bộ khung tòa tiền đường ở đây có 3 dạng vì liên kết chủ yếu là: Vì nóc, vì nách và liên kết hiên.



Trung đường có kích thước dài 9,0m, rộng 5,80m, được chia làm 3 gian. Phần mái công trình lợp ngói nam, nền công trình lát gạch đỏ.



Bộ khung tòa trung đường cũng được làm bằng gỗ lim thiết kế theo kiểu chồng rường, trốn cột giống với khung của tiền đường. Nâng đỡ 4 bộ vì là hệ thống 12 cây cột trong đó có 6 cây cột gỗ và 6 cột gạch giả gỗ.



Ngăn cách giữa trung đường và hậu đường là 3 khoang cửa cuốn vành mai, kích thước cao 3,55m, rộng 2,60m (cửa giữa) và 2,30m (hai cửa bên).



Hậu đường được xây dựng hoàn toàn bằng chất liệu bê tông cốt thép, thiết kế theo kiểu cuốn vòm, chồng lâu 2 tầng 8 mái, gắn ngói nam, nền lát gạch đỏ.



Cung thờ bên trong xây bệ trên đặt khám cùng ngai và bài vị thờ Thủy tổ Vũ Phúc Lương, cung ngoài thờ các vị tổ kế thành.



Các hạng mục công trình của Từ đường họ Vũ Hữu đã được hưng công trùng tu, tôn tạo lại song đều khá hợp lý, tạo thành một chỉnh thể kiến trúc hoàn chỉnh, bảo lưu được những giá trị kiến trúc truyền thống.



Từ đường họ Vũ Hữu, xã Giao Tiến là công trình được con cháu dòng họ xây dựng lên để thờ tự và tri ân công đức đối với Thủy tổ Vũ Đức Lương, người đã đóng góp nhiều công lao trong công cuộc khẩn hoang, tạo lập mảnh đất Hoành Nha.



Công trình kiến trúc Từ đường lưu giữ được nhiều di vật, cổ vật có giá trị như: Gia phả, câu đối, đại tự, ngai và bài vị…góp phần làm tăng thêm giá trị nghệ thuật cho di tích.



Trong những năm cả nước tiến hành hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mĩ xâm lược, cùng với sự đóng góp của con cháu dòng họ Vũ, ngôi Từ đường cũng là địa điểm ghi dấu nhiều sự kiện lịch sử quan trọng của địa phương, đóng góp một phần không nhỏ cùng quân dân cả nước đấu tranh giành độc lập dân tộc.



Cách mạng tháng 8 thành công, chính quyền về tay nhân dân lao động. Ngày 21/8/1945, Tổng khởi nghĩa giành chính quyền ở huyện Giao Thủy thành công. Ngay sau đó, Ủy ban cách mạng lâm thời huyện đã cử cán bộ Việt Minh về 3 thôn: Thượng, Chính, Trung cùng nhân dân tổ chức mít tinh, giành chính quyền và công bố 10 chính sách của Mặt trận Việt Minh. Hòa vào khí thế chung của nhân dân trong xã, con cháu họ Vũ tích cực tham gia xây dựng chính quyền, các đoàn thể Thanh niên cứu quốc, Phụ nữ cứu quốc… Mọi người trong dòng họ đã động viên thuyết phục con em tham gia lực lượng dân quân tự vệ, lên đường tòng quân giết giặc.



Ngày 4/9/1945, Chính phủ ban Sắc lệnh về “Quỹ độc lập” và phát động “Tuần lễ vàng” nhằm động viên sức đóng góp của nhân dân để ủng hộ nền độc lập của Tổ quốc. Cùng với nhân dân trong huyện, xã, con cháu dòng họ Vũ đã tiết kiệm đóng góp vào quỹ cứu nước. Trong đó có gia đình bà Vũ Thị Hoan đã ủng hộ vào “Quỹ độc lập” 1 cân đồng vàng.



Trong những năm kháng chiến chống Pháp (1946 – 1954), Từ đường họ Vũ Hữu còn là địa điểm mở các lớp Bình dân học vụ, bổ túc văn hóa con em và nhân dân địa phương.



Những năm tháng miền Bắc thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược (1954 -1975), ngôi từ đường trở thành địa điểm sơ tán của Ngân hàng huyện và là nơi đưa tiễn, thể hiện quyết tâm lên đường tòng quân giết giặc của các thế hệ con cháu dòng họ.



Từ đường còn là nơi lưu giữ nhiều giá trị văn hóa truyền thống của dòng họ và làng xóm quê hương. Hằng năm tại Từ đường còn diễn ra nhiều lễ tiết để con cháu trong họ ôn lại công lao của tổ tiên, thắt chặt tình đoàn kết xây dựng dòng họ, quê hương ngày một giàu đẹp như:



Kỳ lễ tháng 3 (kỵ Thủy tổ) là kỳ đại lễ của dòng họ được tổ chức trong 2 ngày mồng 9 và mồng 10. Vào dịp này, con cháu họ Vũ làm ăn, sinh sống trên khắp mọi miền Tổ quốc đều tề tựu đông đủ tại từ đường để làm lễ giỗ Tổ.



Kỳ lễ tháng 7 (lễ kỵ tổ Vũ Ngọc Cẩm húy Điền – con trai Thủy tổ Vũ Phúc Lương) được con cháu dòng họ tổ chức vào ngày mổng 10.



Ngoài ra còn nhiều lễ chính hằng năm vào những ngày Thanh Minh, Tết Đoan Ngọ, lễ Vu Lan, lễ Tất niên, Giao thừa và các ngày sóc, vọng hàng tháng, con cháu dòng họ đều đến dâng hương, lễ tổ tại Từ đường.



Từ những giá trị tiêu biểu về lịch sử, văn hóa, khoa học và thẩm mỹ trên đây, từ đường Vũ Hữu xã Giao Tiến đã được công nhận là di tích lịch sử. Đây chính là nguồn động viên tinh thần rất lớn đối với con cháu của dòng họ, đồng thời cũng là nguồn khích lệ con cháu dòng họ Vũ Hữu nói chung và nhân dân địa phương nói riêng bảo tồn và phát huy giá trị của di tích ngày càng phát triển hơn.



Trạng toán Vũ Hữu (1437–1530)

Trạng toán Vũ Hữu (1437–1530) 11/23/2019
Làng Mộ Trạch xã Tân Hồng, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương, quê hương của Vũ Hữu.

Vũ Hữu (1437–1530) là một nhà toán học người Việt, và cũng là một danh thần dưới triều đại Lê Thánh Tông, Lê Hiến Tông. Ông còn được coi là nhà toán học đầu tiên của Việt Nam.

Vũ Hữu quê làng Mộ Trạch, huyện Đường An (nay thuộc huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương). Ông là người đỗ tiến sĩ đầu tiên của làng Mộ Trạch dưới triều Lê Sơ, là con thứ ba của cụ Vũ Bá Khiêm, thuộc đời thứ 5 họ Vũ làng Mộ Trạch. Theo sách gia phả họ Vũ ở làng Mộ Trạch ghi lại thì Vũ Hữu sinh năm 1443 (một số tài liệu ghi Vũ Hữu sinh năm 1437).

Trạng toán Vũ Hữu (1437–1530)


Năm Quý Mùi (năm 1463) đời vua Lê Thánh Tông, ông đỗ Hoàng giáp khi mới 20 tuổi, ông làm quan đến chức Thượng thư Bộ hộ. Bia khoa Quý Mùi hiện còn ở Văn Miếu Quốc Tử giám Hà Nội, có tên ông.

Thuở nhỏ, ông không được đi học vì nhà nghèo, nhưng sớm có năng khiều đặc biệt về toàn. Khi ông còn bé, dân làng Mộ Trạch muốn sửa sang mới ngôi đình bị dột nát, các bô lão trong làng lúng túng chẳng biết tính toán làm sao để có thể hoàn thành ngôi đinh. Vũ Hữu chỉ cần nhìn qua ngôi đinh, lấy que vạch lên đất tính toán, một lát đã xong. Toán thợ làm y theo cách cậu vẽ, quả nhiên đúng khớp cả. Mọi người ngạc nhiên, cho Vũ Hữu là thần đồng. Từ đó họ góp tiền nuôi cậu ăn học.

Tuy là nhà nho, nhưng Vũ Hũu lại khác người. Ông đặc biệt say mê môn toán pháp. Ông ra sức vận động đưa toán học vào việc thi cử nhưng không được nhà vua chấp thuận.

Đời vua Lê Thánh Tông, ở kinh đô Thăng Long, các cửa Đoan Môn, Đại Hương, Đông Hoà của kinh thành xây từ đời Lý, bị sụt nở quá nhiều. Triều đình nghị bàn tu sửa lại. Vua sai Vũ Hữu trù tính nguyên vật Liệu và nhân công cần thiết. Ông đến từng cửa thành, đo đạc chiều cao thấp, rộng hẹp, lập phép tính mọi thứ cần thiết, đôn đốc thi công. Tu sửa xong, số nguyên vật liệu, nhân công mà ông trù tính coi như vừa đủ. Mọi người đều phục tài. Nhà vua khen tài tính toán của ông, thưởng cho 100 mẫu ruộng ở tào vệ Nam Xương, phong ông là Trạng toán.

Trạng toán Vũ Hữu (1437–1530)


Thời vua Lê Thánh Tông, mấy cửa thành Thăng Long (xây từ thời Lý) đã bị hỏng nhiểu. Nhà vua quyết định giao cho một số viên đại thần tính toán nguyên vật liệu để xây lại. Mấy vị này đã đo đạc, tính toán hàng tháng mà vẫn chưa đi đến nhất trí để xây thành. Nghe đồn có Khâm hình viện lang trung (Chức quan trong triều của Vũ Hữu – tương đương chức Vụ trưởng, thứ trưởng ngày nay, chuyên coi về hình luật, xét xử) có biệt tài đo đạc, tính toán, nhà vua liền giao cho công việc tính số gạch cần xây.

Vũ Hữu tuân lệnh. Sau khi ông quan sát các cửa thành, ông về tâu vua:
- Tâu bệ hạ, thần đã xem xét kỹ cửa Đông Hoa, thấy hỏng nhiều hơn cả. Cửa đó lại lớn nhất, xây dựng khó hơn, vậy xin bệ hạ cho sửa cửa này trước.
Ý kiến đề xuất của Vũ Hữu được chấp nhận và nhà vua ra lệnh cho ông phải tiến hành thật khẩn trương, không được dềnh dang như mấy viên đại thần trước.
Ngay tối hôm đó, Vũ Hữu đã tranh thủ thắp đèn đo đạc, tính toán nơi cửa Đông Hoa suốt đêm. Sáng hôm sau vào triều, ông trình lên nhà vua cùng văn võ bá quan, số lượng gạch cần thiết để sửa chữa cổng thành.
Mấy viên đại thần được giao nhiệm vụ trước đó – thấy Vũ Hữu tính số gạch sai lệch với họ quá nhiều – vừa bẽ mặt, vừa tức tối, lại ỷ thế mình là cận thần, bèn ton hót với vua:
- Xin bệ hạ chớ vội tin vào lời quan Lang Trung, không thì sẽ hỏng việc hệ trọng.
Một người khác lại phụ hoạ thêm:
- Xin bệ hạ ra lệnh cho quan Lang trung nếu tính thừa, thiếu 3 viên gạch thì phải trị tội!
Vua Lê Thánh Tông nhìn Vũ Hữu hỏi:
- Nhà ngươi thấy ý kiến đình thần đề xuất thế nào? Giữ thái độ thản nhiên, Vũ Hữu đáp:
- Tâu bệ hạ, thần xin lĩnh ý ạ!

Đúng ngày khởi công,các quan đã kéo đến túc trực trước cửa thành Đông Hoa đông đủ. Mấy viên đại thần sợ Vũ Hữu tranh mất công, muốn vin vào Bộ luật Hồng Đức để trị ông đã cho chuẩn bị sẵn nơi xử tội “lừa dối vua” của Vũ Hữu.

Khi xa giá vua Lê Thánh Tông đến, thì hồi trống khởi công sửa chữa cổng thành Đông Hoa cũng vang lên. Vũ Hữu đưa mắt nhìn đống gạch xếp vuông vức, có đánh dấu trước, thì thấy thiếu một viên. Ông liền tâu để vua biết và cuối cùng đã phát hiện được viên gạch bị giấu đi chỗ khác.

Vũ Hữu đích thân đứng theo dõi, đốc thúc đám thợ lành nghề làm việc. Chẳng bao lâu cổng thành đã được xây xong, số gạch còn thừa lại một viên.

Vua Lê Thánh Tông rất hài lòng. Nhưng mấy viên đại thần càng thêm tức tối, la lên:

- Quan Lang Trung, ngài tính toán rất tài, thế mà vẫn thừa một viên!
Vũ Hữu, cũng với giọng rất khiêm tốn, bình thản thưa:
- Xin các đại quan hãy thư thả, viên gạch đó tôi đã tính trước,dùng để thay viên gạch vỡ ở tường thành phía tây, gần cửa Đông Hoa.

Nói xong, ông chỉ cho thợ đục viên gạch vỡ và thay bằng viên gạch thừa, sít sao một cách kỳ lạ!

Vua Lê Thánh Tông ban chiếu khen thưởng ông và tín nhiệm giao cho ông tính toán sửa chữa các cửa thành hư hỏng còn lại.

Ông hệ thống hoá những thành tựu về hình học và số học đương thời, viết thành quyển Lập thànhtoán Pháp chỉ dẫn cách chia cụ thể và chính xác về cách chia ruộng đất, xây dựng nhà cửa, thành luỹ …Các phép đo ruộng đất được tính theo đơn vị mẫu, sào, thước (24 mét vuông) và tấc (1/10 thước). Đây là quyển sách toán học cổ nhất nước ta, nay không còn.

Tuy làm quan, nhưng Vũ Hữu luôn giữ mình trong sạch, thanh liêm, cứng cỏi, cuộc sống gia đình cần kiệm. Ngày ông đỗ Hoàng giáp, theo hương ước của làng Mộ Trạch quy định : Hễ ai đỗ đại khoa, dân làng góp tiền mừng con lợn, người đỗ đạt phải khao làng một con trâu. Nhà nghèo, Vũ Hữu buộc phải mua trâu để khao làng mà không có tiền để mua trâu cày cho gia đình. Bài thơ tự thuật của ông có câu :

Nhậm nhiệm chu niên quan lịch tiến
Tể ngưu thường hữu, phạp ngưu canh
Nghĩa là :
Nhận nhiệm nhiều năm quan thường tiến
Trâu khao thì có, chẳng trâu cày

Vũ Hữu làm quan qua 7 đời vua triều Lê sơ : Lê Thánh Tông (1460-1497) ; Lê Hiển Tông (1497-1504) ; Lê Duệ Tông (1504-1505) ; Lê Uy Mục (1505-1510) ; Lê Tương Dục (1510-1516) ; Lê Chiêu Tông (1516-1522) ; Lê Cung Hoàng (1522-1527). Ông có 5 con và cháu ruột đỗ tiến sĩ, cùng được khắc tên ở Văn miếu Mao Điền (Hải Dương) và Văn Miếu Quốc Tử Giám (Hà Nội).

Ngoài 70 tuổi, ông cáo quan xin về hưu, làm nhà đặt tên là Phượng Tri am. Ông được tặng phong là Thái bảo. Năm 1527, vua Lê Cung Hoàng tin nhiệm ông làm Nguyên lão đại thần, cử ông cùng với Phan Đình Tá mang cờ tiết, kim sách, mũ áo thêu rồng đen, dát đai ngọc, kiệu tía đến Cổ Trai tấn phong tước vương cho Mạc Đăng Dung.

Khi nhà Mạc thay ngôi vua nhà Lê, ông vẫn được triều đình vời làm quan. Năm Canh Dậu (năm 1530) ông mất, thọ 93 tuổi.

Vũ Hữu không chỉ là một danh sĩ mà còn là nhà toán học tài giỏi dưới triều Lê, được lưu danh sử sách.

Ông được thờ tại nhà thờ Hiển Đức Đường , phần mộ còn tại xứ Mả Miễu (Mộ Trạch). (sưu tầm)

Bia vàng khắc tên gần 200 người đỗ từ cử nhân trở lên của họ Vũ

Bia vàng khắc tên gần 200 người đỗ từ cử nhân trở lên của họ Vũ 10/05/2019
147 cử nhân đại học, 30 thạc sĩ, 2 tiến sĩ, 1 PGS, TS là bảng vàng thành tích về sự hiếu học của phái 5 họ Vũ được tạc vào 'bia vàng' ở thôn Phương Khê (xã Chi Lăng Bắc, huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương).

Bia vàng khắc tên gần 200 người đỗ từ cử nhân trở lên của họ Vũ
Nhà thờ phái 5 họ Vũ, có diện tích 136 mét vuông, gồm 2 khu: khu sinh hoạt cộng đồng của dòng họ và khu thờ

Đây vốn dĩ là tấm bia đá, nhưng vì nó là nơi khắc tên những người đã đỗ đạt, thành tài làm vẻ vang cho truyền thống hiếu học của dòng họ và quê hương, nên nó mang cái nghĩa “bảng vàng” của kỳ thi Tam trường thời phong kiến.

Phái 5 họ Vũ – Nơi phát tích sự học

Từ Trung tâm TP. Hà Nội rẽ vào Quốc lộ số 5, đi khoảng 70km là đến Phương Khê. Điều đặc biệt khi tôi tới đây tìm hiểu, là hỏi bất cứ ai, già trẻ lớn bé cũng đều thấy toàn họ Vũ. Và lúc này, ta mới thực sự hiểu được câu đồng dao của người dân nơi đây truyền tự bao đời nay: “Nhất Vũ, nhì Nguyễn”.

Thôn Phương Khê có 23 dòng họ, trong đó họ Vũ là họ đông nhất, kế đến là họ Nguyễn, các dòng họ còn lại có họ Mai, họ Vương,… Theo gia phả của dòng họ Vũ, họ Vũ về Phương Khê lập nghiệp cách nay đã 800 năm, trải qua bốn đời độc đinh thì đến đời thứ 5 – cụ Vũ Văn Tín sinh được 6 trai, 3 gái. Người con cả mất (chưa có vợ con), còn 5 người con trai còn lại lập thành 5 phái (phái 1, phái 2, phái 3, phái 4, phái 5). Trong đó, nổi bật nhất là phái 5 họ Vũ, là nơi phát tích sự học của dòng họ Vũ
.
Cụ tổ phái 5 họ Vũ (còn gọi là phái út) có tên là Vũ Quốc Hy (hiệu Phấn Nghĩa), đỗ Hương Cống và được bổ nhiệm làm Tri phủ Lạng Giang. Đến đời thứ 2, con trưởng của cụ cũng đỗ đạt và được bổ nhiệm làm Tri huyện Trung Sơn. Từ đó, đến nay, đã trải qua 18 đời phái 5 họ Vũ với 165 hộ gia đình hiện định cư ở thôn Phương Khê. Ngoài ra, phái 5 họ Vũ cũng tản đi khắp nơi: Hà Nội, Thái Nguyên, Hải Phòng, TP.HCM,… để sinh cơ lập nghiệp.

Trong số đó, có một số gia đình tiêu biểu như: gia đình cụ Vũ Bất Quyện có 1 phó giáo sư, tiến sĩ và 4 cử nhân đại học; gia đình ông Vũ Châu Quán có 4 thạc sĩ và 1 cử nhân đại học; gia đình ông Vũ Ngọc Tiện có 4 thạc sĩ,… Còn về cá nhân, phái 5 họ Vũ có 6 người là hiệu trưởng các trường trong huyện: cụ Vũ Xuân Vạn – cố Hiệu trưởng Trường THCS xã Hồng Quang, ông Vũ Như Nguyệt – nguyện Hiệu trưởng Trường THCS Phạm Kha… ; và có 6 người là hiệu phó: cụ Vũ Văn Tính – cố Phó hiệu trưởng Trường THPT Thanh Miện I, bà Nguyễn Thị Tú – Phó hiệu trưởng Trường Tiểu học Chi Lăng Bắc,… cùng với hơn 40 nhà giáo đã và đang công tác tại các trường trên địa bàn hoặc tại các nơi khác.

Bia vàng khắc tên gần 200 người đỗ từ cử nhân trở lên của họ Vũ

Trong gian nhà, sinh hoạt cộng đồng có 4 bia đá, bia thứ nhất đến thứ ba (từ trái sang) là bia công đức, bia còn lại là Bia Danh. Bia Danh có mục đích vinh danh hậu duệ nhiều đời có học vị từ cử nhân đại học trở lên

Bia vàng khắc tên gần 200 người đỗ từ cử nhân trở lên của họ Vũ

Bia Danh gồm 2 phần, phần đế (dọc cao 30cm, ngang dài 1m20) và phần bia (dọc cao 1m50, ngang dài 1m). Bia khắc cả 2 mặt, mặt trước khắc tên những người có trình độ tiến sĩ, phó giáo sư, thạc sĩ, cử nhân đại học, kỹ sư đại học

Lưu truyền, giáo dục thế hệ trẻ

Để phát huy và lưu giữ truyền thống hiếu học này, Ban Khuyến học (gồm 12 người - gồm chi trưởng và trưởng các ngành) phái 5 họ Vũ đã quyết định khắc tên những người con ưu tú có trình độ cử nhân đại học trở lên của mình vào bia đá. Theo ông, Vũ Văn Tiếp (62 tuổi) – Trưởng phái 5 họ Vũ đời thứ 15 – Trưởng ban, việc này được khởi xướng vào năm 2012, và khắc lần đầu vào dịp Giỗ tổ 20 tháng 3 (âm lịch) trong cùng năm, nhằm mục đích tôn vinh sự học, tôn vinh những người đỗ đạt, thành đạt. Hơn nữa, đây còn là cách giáo dục lớp trẻ phải chịu khó học, nhìn các lớp trước mà học. Bởi vậy, từ ngày xây dựng bia đá cho tới nay, số lượng các em học sinh được giấy khen của nhà trường ngày càng tăng, điển hình như năm học 2016 - 2017 có 85 em được giấy khen.

Từ khi bia đá được dựng, không chỉ người trong phái mà người ở các phái khác cũng nhiệt liệt ủng hộ. Cụ Vũ Quang Đáo – phái 5 họ Vũ đời thứ 14 chia sẻ: “Tôi nghĩ việc dựng bia như vậy cũng là được, cũng là vinh danh cho những người có học. Hơn nữa, nó còn là tiếng thơm của ngành, chi phái của chúng tôi”. Còn đối với em Vũ Văn Nghĩa – phái 5 họ Vũ đời thứ 18, sinh viên năm cuối Đại học Công nghiệp Hà Nội thì cho rằng: “Việc khắc bia này cần được nhân rộng, phổ biến hơn để nhớ đến những người có công danh trong việc học tập, để nhằm làm tấm gương lớn cho các đời sau noi theo”.

Vũ Hữu - nhà toán học thời xưa

Vũ Hữu - nhà toán học thời xưa 5/13/2018
Các trạng nguyên, tiến sĩ nước ta nói chung đều giỏi văn chương, thơ phú, hầu như chỉ có hai người nổi tiếng về toán học. Đó là trạng nguyên Lương Thế Vinh và người thứ hai chính là Vũ Hữu.

Thần đồng toán học  


Vũ Hữu (1437 – 1530), người làng Mộ Trạch, tổng Thì Cử, huyện Đường An, phủ Thượng Hồng, trấn Hải Dương (này là làng Mộ Trạch, xã Tân Hồng, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương), là một nhà toán học người Việt và một danh thần dưới triều đại Lê Thánh Tông, Lê Hiến Tông.

Vũ Hữu đỗ Hoàng giáp (tức Tiến sĩ) cùng khoa với Lương Thế Vinh khoa thi năm Quý Mùi (1463) đời vua Lê Thánh Tông.

Từ bé Vũ Hữu còn sớm thể hiện năng khiếu về tính toán. Trong làng trong xóm có sự tranh chấp gì về chia chác ruộng đất đều nhờ cậu tính toán, phân xử  giúp. Tiếng đồn về tài toán của cậu lan ra khắp vùng Đường An, trấn Hải Dương.

Một lần, Vũ Hữu theo cha là ông Vũ Bá Khiêm sang nhà bạn chơi. Chủ  nhà có một chiếc điếu cày được nạm bạc rất đẹp nhưng cái nõ lại bằng đồng. Muốn thay nhưng chưa biết phải ứng ra bao nhiêu bạc bèn nhờ Vũ Hữu tính hộ.

Vũ Hữu xin đem đến một chiếc đĩa, cậu đặt chén nước vào trong lòng đĩa, rồi nhẹ nhàng rót nước đầy đến miệng chén, nhưng không để trào ra một giọt nào. Sau đó cậu nhúng chìm chiếc nõ điếu vào chén nước. Nước bị chiếc nõ choán chỗ trào ra ngoài, chảy xuống bát. Đong số nước trào ra trong bát chính là thể tích của chiếc nõ. Ông chủ cứ theo đó để xuất bạc nén cho thợ làm nõ điếu thì vừa vặn.

Vũ Hữu - nhà toán học thời xưa

Không thừa một viên


Vũ Hữu thi đỗ Hoàng giáp năm 20 tuổi, được vua Lê Thánh Tông cử giữ chức lang trung ở Khâm hình viện.

Sách Công dư tiệp ký  còn ghi lại câu chuyện Vũ Hữu sửa chữa các cổng thành Thăng Long. Trong khi các viên quan bộ Công lúng túng không tính ra được khối lượng vật liệu và  dự toán kinh phí, thì Vũ Hữu dẫn mấy thợ  cả đến thị sát và đo đạc tỉ mỉ từng cửa thành, rồi tính ra số lượng gạch rất cụ thể. Thượng thư bộ Công có ý nghi ngờ.
Thấy vậy, Vũ Hữu đứng lên thưa: Bẩm thần đã tính toán kỹ, không thừa không thiếu một viên. Một viên quan khác được dịp xúc xiểm: Bẩm tâu, đã vậy xin quan lang trung làm cam kết nếu sai lệch sẽ bị trị tội.

Vua hỏi: Các quan có ý  như vậy, khanh có dám nhận không? Vũ Hữu  đáp: Tâu bệ hạ, thần xin lĩnh ý.

Ngay hôm ấy, Vũ Hữu sai mua gạch xếp từng chồng ngay ngắn bên cổng thành Đông Hoa. Hôm sau, khi công việc đã hoàn tất, một  viên quan tỏ vẻ đắc ý, mách với vua: Tâu bệ hạ, ở đây vẫn còn thừa một viên ạ.

Vũ Hữu đỡ viên gạch và tâu: Bẩm bệ hạ và các vị đại thần, viên gạch này không thừa đâu. Tại mặt tường phía đông bên kia ở trên cao có một viên gạch bị mủn vỡ, thần đã cho thửa riêng viên gạch này để thay thế. Mọi người bán tín, bán nghi, Vũ Hữu dẫn vua sang bên kia tường thành, sai thợ trèo lên gỡ viên gạch vỡ ra và đem trám viên gạch mới vào thì vừa khít. Vua Lê rất đẹp lòng.

Vũ Hữu làm quan có tính cẩn thận, cần mẫn, sống liêm khiết, nên ngày càng được vua tin dùng, thăng lên tới chức Thượng thư bộ Hộ, rồi Thượng thư bộ Lễ, sau được phong hàm Thái bảo, tước Trùng Dương Hầu.

Vũ Hữu được trọng dụng, giữ làm quan trong triều đến năm 70 tuổi mới được cho về nghỉ hưu. Về trí sĩ tại quê nhà, nhưng mỗi khi vua cần đến lại cho mời ông ra hỏi ý kiến. Ông thọ đến 93 tuổi mới mất.

Lương Thế Vinh để lại cho đời cuốn Đại thành toán pháp, còn Vũ Hữu là tác giả cuốn Lập thành toán pháp. Cả hai cuốn  ấy đều trở thành sách giáo khoa về toán cho học trò nước ta hàng mấy thế kỷ.
Lập thành toán pháp bao gồm những kiến thức cơ bản về hình học và số học, hướng dẫn cách đo lường ruộng đất theo các đơn vị mẫu, sào của nước ta, tính toán các công trình xây dựng, kiến trúc, đào đắp kênh mương, đê điều...

Cuộc Nam tiến của dòng họ Vũ

Cuộc Nam tiến của dòng họ Vũ 9/28/2017

I.  Bối cảnh lịch sử của thời Lý – Trần:

Nước Đại Việt trước đời Vua Lý Thánh Tông, cuối thế kỷ XI biên thùy phía Nam mới chỉ có đến đỉnh núi Hoành Sơn (Đèo Ngang) hay bờ Bắc sông Gianh thôi? Trước đó, vào thời Lý Nam Đế, thế kỷ VI và thời Tùy Đường đô hộ Giao Châu, biên giới chỉ ở Nam sông Lam? Sau đó, quân dân ta lấn dần từ năm 545 đến 980 thì chiếm đến Hoàng Sơn.

Cuộc Nam tiến của dòng họ Vũ

Chuyện những dòng họ “khoa bảng'

Chuyện những dòng họ “khoa bảng' 9/23/2017

Thực hư 'thế đất ruột ốc' giúp nhiều đời cao sang

Trong lịch sử khoa cử Nho học nước Việt kéo dài từ trong thời gian 1075 - 1919, chứng kiến nhiều dòng họ khoa bảng, nhiều làng khoa bảng vang danh. Nhưng hẳn hiếm có dòng họ nào bằng họ Vũ làng Mộ Trạch. Nơi làng Mộ Trạch đất Hải Dương, là làng tiến sĩ, nhưng họ Vũ, hẳn chiếm đầu bảng về số lượng các ông nghè.

Nơi song táng thủy tổ và phu nhân ở Mộ Trạch
Nơi song táng thủy tổ và phu nhân ở Mộ Trạch

Thân Thế Và Sự Nghiệp Cụ Thủy Tổ Vũ Hồn

Thân Thế Và Sự Nghiệp Cụ Thủy Tổ Vũ Hồn 9/22/2017

Thân Thế Và Sự Nghiệp Cụ Thủy Tổ Vũ Hồn

Thân Thế Và Sự Nghiệp Cụ Thủy Tổ Vũ Hồn

Theo gia phả, tộc phả và thần phả ở Mộ Trạch, vào đời Nhà Đường bên Trung Quốc (618-907), khoảng năm 800, có một quan chức tên là Vũ Huy (1), người làng Mã Kỳ, huyện Long Khê, phủ Thường Châu, tỉnh Phúc Kiến (2) . Vợ ông là bà Lưu thị Phương. Hai ông bà đã nhiều tuổi, khoảng gần 60 tuổi, vẫn chưa có con cái. Ông Vũ Huy là một nhà nho, do đó ông thường thường than rằng: " Vàng núi, thóc biển coi như cỏ rác; con hiếu, cháu hiền qúy hơn châu, ngọc". Sau đó, ông làm sớ dâng lên vua Đường xin được nghỉ, về làm trí sĩ. Vua Đường chuẩn cho, lại ban phát xe, ngựa, vàng, bạc. Ông tạ ơn, về quê sống cảnh an nhàn và đi du ngoạn. Ông Vũ Huy vốn tinh thông khoa địa lý phong thủy, do đó đã lên đường đi du ngoạn về Phương Nam, đến đất Giao Châu, khi ấy là khu đất thuộc đồng bằng Bắc Bộ bây giờ.

Sự Phát Triển Của Dòng Họ Vũ Từ Thủy Tổ Vũ Hồn-Viễn Tổ Vũ Nạp Cho Đến Hiện Nay

Sự Phát Triển Của Dòng Họ Vũ Từ Thủy Tổ Vũ Hồn-Viễn Tổ Vũ Nạp Cho Đến Hiện Nay
Sự Phát Triển Của Dòng Họ Vũ Từ Thủy Tổ Vũ Hồn-Viễn Tổ Vũ Nạp Cho Đến Hiện Nay 9/22/2017

Sự Phát Triển Của Dòng Họ Vũ Từ Thủy Tổ Vũ Hồn-Viễn Tổ Vũ Nạp Cho Đến Hiện Nay

Dòng họ Vũ gắn liền với tên đất và tên làng : „p Khả Mộ, Làng Mộ Trạch. Tại Làng Mộ Trạch hiện nay có 11 dòng họ, trong đó họ Vũ là họ lớn nhất : nhất Vũ , nhì Lê. Vào cuối đời Trần, họ Vũ đã chia thành năm chi và tám phái. Khởi tổ của Tiền Ngũ Chi Vũ Bá Khiêm là hậu duệ của Vũ Nghiêu Tá và Vũ Hán Bi. Khởi Tổ của dòng họ Lê là Lê Như Huy, gốc Thanh Hóa, làm Tả Giang An Phó Sứ Lạng Giang, hiệu là Trí Trai Tiên Sinh, lấy con gái họ Vũ Mộ Trạch, rồi lập nghiệp ở đây. Sự phát triẻn của dòng họ Vũ-Lê đã làm cho Làng Mộ Trạch mỗi ngày một đông, và cũng đã làm cho Làng Mộ Trạch nổi tiếng một thời. Sử sách đã ghi nhận Mộ Trạch là một làng của nho gia; người trong nước thường khen đất này là Làng Tiến Sĩ, đất của những nhà nho học rộng, nơi mà đời nào cũng có người đỗ đạt cao.

Mộ Trạch

Mộ Trạch 9/22/2017

Mộ Trạch

Làng Mộ Trạch là một ngôi làng cổ, nay thuộc xã Tân Hồng, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương. Làng Mộ Trạch nổi danh trong lịch sử Việt Nam là ngôi làng khoa bảng "độc nhất vô nhị" ở Việt Nam, ghi nhận được 36 người đỗ tiến sĩ Nho học, trong đó có 1 Trạng nguyên (Lê Nại) và 11 Hoàng giáp.

SƠ LƯỢC TIỂU SỬ VŨ CÔNG THỦY TỔ

SƠ LƯỢC TIỂU SỬ VŨ CÔNG THỦY TỔ 9/22/2017

SƠ LƯỢC TIỂU SỬ VŨ CÔNG THỦY TỔ

Theo các tư liệu nghiên cứu về lịch sử dòng họ Vũ- Võ Việt Nam, vào đời nhà Đường, khoảng đầu thế kỷ thứ 9, có một vị quan tên Vũ Huy người làng Mã Kỳ, huyện Long Khê, phủ Thường Châu, tỉnh Phúc Kiến. Sau đó, ông làm sớ dâng lên vua Đường xin nghỉ hưu. Ông Vũ Huy vốn tinh thông khoa địa lý phong thủy, vì vậy trên đường đi du ngoạn về phương Nam. Đến ấp Mạn Nhuế thuộc huyện Thanh Lâm đất Hồng Châu, nay là Thị trấn Nam Sách, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương, Ngài thấy một thế  đất đẹp ở khu cánh đồng có 98 gò đất nhỏ bao quanh một gò cao và lớn, tựa như 98 ngôi sao chầu về mặt trời (cửu thập bát tú triều dương ). Cái gò ấy địa phương gọi là Đống Dờm. Theo thuyết địa lý - phong thủy nếu mộ táng ở đây con cháu sẽ phát về khoa bảng, công danh hiển hách. Cụ Vũ Huy quay trở về Phúc Kiến đưa hài cốt thân phụ sang táng ở Đống Dờm, rồi làm nhà ở tạm để trông nom ngôi mộ.

Vài nét về Dòng họ Vũ (Võ) ở Việt Nam

Vài nét về Dòng họ Vũ (Võ) ở Việt Nam 9/22/2017
Vài nét về Dòng họ Vũ (Võ) ở Việt Nam
Bài: Vũ Thị Thành – Vũ Sáng

Ở Việt Nam, dòng họ Vũ (Võ) là một trong số rất ít dòng họ xác định được nguồn gốc chung vừa rõ ràng, vừa lâu đời.

Vài nét về Dòng họ Vũ (Võ) ở Việt Nam


Theo cổ sử, khoảng năm 300 trước công nguyên, các dân tộc Việt thuộc dòng Bách Việt bị người phương Bắc chèn ép, phải lùi xuống phía nam, hình thành 4 quốc gia riêng biệt là Đông Việt, Mân Việt, Nam Việt và Lạc Việt. Trong hơn 1.200 năm sau đó, 4 quốc gia này liên tục bị người phương Bắc tìm cách thôn tính, người Bách Việt liên tục bị người Hán tìm cách đồng hoá. Tới năm 960, khi nhà Tống áp đặt được ách thống trị lên toàn cõi Trung Hoa thì trên bản đồ chỉ còn lại vùng đất châu Giao còn những người Việt chưa bị Hán hoá, nhưng cũng đã bị người Hán áp đặt sự cai trị từ khá lâu rồi.